Bản tin chi tiết

Một số kiến thức cơ bản về phân bón

Cây trồng cũng như tất cả các cơ thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển. Cây trồng sinh trưởng và phát triển được là nhờ hút chất khoáng từ đất và phân bón, thực hiện quá trình quang hợp từ nước và cácboníc dưới tác động của ánh sáng mặt trời.

I/ Yếu tố dinh dưỡng của cây trồngCây trồng cũng như tất cả các cơ thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển. Cây trồng sinh trưởng và phát triển được là nhờ hút chất khoáng từ đất và phân bón, thực hiện quá trình quang hợp từ nước và cácboníc dưới tác động của ánh sáng mặt trời.Trong thành phần của cây trồng có mặt hầu hết các chất hoá học tự nhiên (khoảng 92 nguyên tố), nhưng chỉ có 16 nguyên tố thiết yếu với cây trồng, trong đó có 13 nguyên tố khoáng. Đạm (N), Lân(P), Kali(K) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng lớn được gọi là Nguyên tố đa lượng.Canxi(Ca), Magiê(Mg), Lưu Huỳnh (S) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng ít hơn nhưng cũng đáng kể nên được gọi là Nguyên tố trung lượng.Sắt(Fe), Kẽm(Zn), Mangan(Mn), Đồng(Cu), Bo(B), Molypden (Mo), Clor(Cl) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng nhỏ nên được gọi là Nguyên tố vi lượng.

  1. Chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng

Đạm (N): Là hợp phần quan trọng của chất hữu cơ cấu tạo nên diệp lục tố, nguyên sinh chất, axít nucleic, Protein. Thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của các mô sống. Cải thiện chất lượng của rau ăn lá, hạt ngũ cốc.

 Lân (P): Là trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và Protein của cây. Là thành phần của axít nucleic, amino axít, protein phospho - lipid, coenzim ..., nhiễm sắc thể. Cần thiết cho sự phân chia tế bào, kích thích rễ và ra hoa.Kali(K): Giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh độ pH, lượng nước ở khí khổng. Hoạt hoá ezim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp Hydrat carbon. Giúp vận chuyển Hydrat carbon, tổng hợp protein. Cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi thời tiết lạnh và mây mù. Do vậy, nâng cao khả năng chống rét và các điều kiện bất lợi khác của cây. Làm tăng độ lớn của hạt và cải thiện chất lượng của rau quả.

Lưu huỳnh (S): là thành phần của một số axít amin cũng như aminoaxít liên quan đến hoạt động trao đổi chất của Vitamin và các Coenzim A giúp cho cấu trúc Protein được vững chắc.

Magiê (Mg): là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, có vai trò quan trọng trong quang hợp. Là hoạt chất của hệ ezim gắn liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic. Thúc đẩy hấp thu và vận chuyển lân giúp đường vận chuyển dễ dàng hơn trong cây.

Sắt (Fe): Cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì diệp lục tố trong cây. là thành phần chủ yếu của nhiểu enzim, đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyển hoá diệp lục tố.

Đồng(Cu): là thành phần của men Oxydase và thành phần của nhiều enzimascorrbic, Phenolase... Xúc tiến quá trình hình thành Vitamin A.

Mangan(Mn): Xúc tác trong một số phản ứng enzim và sinh lý trong cây, cần thiết cho quá trình hô hấp của cây. Hoạt hoá các enzim liên quan đến sự chuyển hoá đạm và sự tổng hợp diệp lục tố. Kiểm soát thể Oxy hoá - khử trong tế bào ở các pha sáng và tối.

Bo(B): ảnh hưởng đến hoạt động của một số enzim. Có khả năng tạo phức với các hợp chất Polyhydroxy. Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, làm cho việc vận chuyển Hydrát carbon được dễ dàng. Cần cho quá trình tổng hợp và phân chia tế bào. Giúp điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây. Thiết yếu với sự tổng hợp protein trong cây.

Molypđen(Mo): Xúc tác trong quá trình cố định và sử dụng đạm của cây là thành phần của men khử nitrat và men nitrogense. Cần thiết cho vi khuẩn cố định đạm cộng sinh ở nốt sần cây họ đậu.

Clo(Cl): Kích thích sự hoạt động của một số enzim và ảnh hưởng đến sự chuyển hoá hydrat carbon và khả năng giữ nước của mô thực vật.

Carbon(C): Là phần tử cơ bản cấu tạo nên Carbonhydrat, protein, lipit và axit nucleic

Oxy(O): Tham gia trong thành phần cấu tạo của hầu hết các chất hữu cơ trong cây.

2.Triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡngThiếu đạm(N): Cây sinh trưởng còi cọc, số nhánh và chồi ít, xuất hiện màu xanh lợt đến vàng nhạt trên các lá già, bắt đầu từ chóp lá. Khi thiếu trầm trọng số hoa bị giảm nhiều năng suất thấp, hàm lượng protein thấp.

Thiếu lân(P): Cây còi cọc, thân yếu, các lá trưởng thành có màu xanh sẫm đến tím tía, rễ bị kìm hãm, khó ra hoa, số quả ít, chín chậm, năng suất, chất lượng thấp.

Thiếu kali(K): úa vàng dọc mép lá, chóp lá già chuyển nâu, sau đó lan dần vào trong theo chiều từ chóp lá trở xuống, từ mép lá trở vào. Cây phát triển chậm và còi cọc thân yếu dễ bị đổ ngã.

Thiếu lưu huỳnh(S): các lá non chuyển vàng hoặc vàng lợt. Sinh trưởng của chồi bị hạn chế, ảnh hưởng đến số hoa. Thân cứng, nhỏ và hoá gỗ sớm.

Thiếu Magiê(Mg): Vàng lá gân xanh ở các lá già, lá già ở thời kỳ cuối, mép lá cong lên. ở một số loại rau có các điểm vàng lợt đến da cam, đỏ hoặc tía. Thân yếu dễ bị nấm bệnh tấn công.

Thiếu Canxi(Ca): các lá non bị biến dạng hình thành đài hoa và quăn màu xanh lụa không bình thường, các chồi ngọn bị suy thoái, rễ yếu, cổ rễ thường gãy, chồi và hoa rụng sớm, thân yếu, năng suất, chất lượng thấp.

Thiếu kẽm(Zn): Các lá non nhỏ, biến dạng, mọc xít nhau, chuyển vàng trắng và xù ra. Số hoa, quả giảm mạnh, năng suất, chất lượng thấp.

Thiếu đồng(Cu): ở cây ngũ cốc xuất hiện màu vàng và quăn phiến lá, số bông bị hạn chế, hạt kém phát triển, ở cây có múi chết đen ở phần mới sinh trưởng, quả có những đốm nâu, khả năng chống chịu sâu bệnh ở cây kém.

Thiếu sắt(Fe): úa vàng các lá non, đỉnh và mép lá giữ màu xanh lâu nhất. Trường hợp thiếu nặng, toàn bộ thịt và gân lá chuyển vàng và cuối cùng trở thành trắng nhợt.

Thiếu Mangan(Mn): úa vàng gân của các lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử. Xuất hiện vùng xám vàng gần cuống lá non.

Thiếu Bo(B): Lá biến dạng, dày, đôi khi giòn. Hoa kém phát triển, ít đậu quả quả non hay rụng. Vỏ quả dày, lõi thường bị thâm đen, lệch tâm năng suất. Chất lượng kém.

Thiếu Molyden(Mo): Đốm vàng ở gân giữa của các lá dưới, tiếp đó là hoại tử mép lá và lá bị gập nếp lại. ở rau, các mô lá bị héo, chỉ còn lại gân giữa của lá và một vài miếng phiến lá nhỏ. Thiếu Molypden thấy rõ ở cây họ đậu.

Thiếu Clo(Cl): Héo chóp lá non, úa vàng lá sau chuyển màu đồng thau và chết khô.

3. Ảnh hưởng của sự thiếu hụt đa nguyên tố:   Sinh trưởng và phát triển của cây có thể bị ảnh hưởng bởi tương tác giữa hai hay nhiều chất dinh dưỡng, do vậy, sự thiếu hụt đồng thời nhiều chất có thể xảy ra cùng một lúc. Sự thiếu hụt đa nguyên tố này có thể xảy ra trong trường hợp đất cung cấp không đủ một vài nguyên tố hoặc do bón phân mất cân đối nghiêm trọng (chỉ bón đạm, lân, kali mà không bón các nguyên tố trung và vi lượng ...). ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.Khi xuất hiện triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng, trước hết chúng ta cần phải xác định xem sự thiếu hụt là đơn hay đa nguyên tố từ đó mới xác định được nguyên tố cần bón và lượng bón thích hợp. Vì vậy, bón phân cân đối và hợp lý là yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo cho cây trồng cho năng suất và chất lượng tốt nhất.

II/ Phân bón Vi sinh

  1. Tại sao cần dùng phân vi sinh?Hệ sinh vật trong đất quyết định độ phì của đất, vì chúng phân huỷ chất hữu cơ thành mùn. Đất cần phải được coi là vật thể sống do đó cần được chăm sóc. Đất sống có nghĩa là trong đất có vô vàn vi sinh vật hoạt động và quyết định độ màu mỡ của đất. Do vậy, nếu bón nhiều phân hoá học thì độ phì của đất sẽ bị giảm.Phân vi sinh không những không tiêu diệt vi sinh vật trong đất mà còn cung cấp cho cây trồng nguồn thức ăn đạm, lân. Xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ bền vững

.2. Tác dụng của phân vi sinh:

ØBón phân vi sinh làm cây khoẻ nhanh hơn, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn.

ØKhai thác cây trồng hiệu quả hơn - tăng thời gian sử dụng cây trồng.

Ø Bón phân vi sinh làm giảm tối đa hàm lượng độc tố NO-3 (NO-3 là chất gây ung thư) tồn đọng trong nông sản,

ØBón phân vi sinh làm tăng độ phì nhiêu của đất, khai thác đất hiệu quả bền vững(lâu dài).

Ø Bón phân vi sinh -> cho nông sản an toàn và sạch

III. Phân bón Sông Gianh

1. Các chủng loại phân bón của Công ty Sông Gianh

1.1 Lân hữu cơ sinh học+ Lân hữu cơ sinh học Sông Gianh+ Lân hữu cơ sinh học Sông Gianh chuyên dùng cho nuôi trồng thuỷ sản.+ Lân hữu cơ sinh học cao cấp Sông Gianh

1.2 Phân sinh hoá hữu cơ chuyên dùng+ Phân bón sinh hoá hữu cơ Sông Gianh chuyên dùng cho cây ăn quả+ Phân phức hợp hữu cơ vi lượng chuyên dùng cho cây lúa+ Phân bón phức hợp đa lượng NPK 10-5-5+ Phân bón phức hợp đa lượng NPK 5-10-3+ Phân bón phức hợp đa lượng NPK 12-5-10-15S+ Phân bón sinh hoá hữu cơ Sông Gianh chuyên dùng cho cây hoa và cây cảnh.+ Phân phức hợp hữu cơ khoáng cao cấp Sông Gianh chuyên dùng cho cây chè.

1.3 Phân bón qua lá và dung dịch tưới gốc

2. Tác dụng của phân bón Sông Gianh-

> Cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng-

> Đảm bảo cung cấp đầy đủ, hợp lý các tập đoàn vi sinh vật hữu ích, giúp cải tạo lý, hoá tính và tăng độ phì nhiêu cho đất

.-> Quá trình trao đổi chất giữa các cation Fe, Ca, Mg, Al, Bo.... thông qua axit Humic, các hợp chất Humat, giúp phân giải các dinh dưỡng bị cố định trong đất như Lân, Kali, Canxi làm cho nó trở nên hữu dụng, tăng hiệu lực phân khoáng.

-> Đẩy nhanh tốc độ phân giải Xenlulo, tăng hữu cơ, bồi dưỡng, kiến tạo và làm tăng hàm lượng mùn cho đất. Làm giảm độ cứng, vón cục, tăng đặc tính thấm nước và giữa ẩm cho đất.-

> Kích thích sự tạo thành và hoạt động của các men xúc tác trong cây, tăng cường hình thành chất diệp lục, tăng hiệu suất quang hợp, tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng.

-> Đảm bảo khai thác cây trồng nhiều vụ, cho nông sản sạch và không gây ô nhiễm môi trường.